Cẩm nang sống đáng giá

4 Đừng lãng phí thời gian

Phần này chỉ tính sổ thời gian. Bạn nhìn mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi năm tiết kiệm lại được bao nhiêu giờ, hoặc tỷ lệ một việc xong đúng hạn tăng được bao nhiêu. Ở đây không quy thời gian ra tuổi thọ, cũng không quy ra tiền. Chỗ nào liên quan tới tiền, phần này chỉ cho cách tính, không cho kết luận. Chứng cứ của đa số mục trong phần này là một nghiên cứu đơn lẻ, hoặc thống kê tổng lượng của các cuộc điều tra sử dụng thời gian, nên mức chủ yếu là B, C.

1 Viết "định làm" thành "mấy giờ, ở đâu, gặp gì thì làm gì"

Tiền: Không tốnThời gian: ÍtÝ chí: Không cầnLợi ích: LớnLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ A

Bạn đổi "tôi sẽ làm việc này" thành "sáng thứ ba 8 giờ ngồi vào bàn làm việc thì viết phần mở đầu trước". Trong 94 lượt kiểm tra gộp lại, người viết vậy có tỷ lệ đạt mục tiêu cao hơn rõ, hiệu ứng vừa tới lớn. Bạn chỉ đổi cách viết một câu, không tốn tiền hay sức.

Xem chi tiết
Chi phí

Không tốn tiền. Mỗi việc bạn mất 1 đến 2 phút để viết một câu "nếu... thì...". Ví dụ, bạn viết "sáng thứ ba 8 giờ ngồi vào bàn làm việc thì viết phần mở đầu trước".

Lợi ích

Khi gộp 94 lượt kiểm tra độc lập lại tính, người viết trước ý định thành câu "nếu... thì..." có tỷ lệ đạt mục tiêu cao hơn. Trong tâm lý học, kiểu viết này gọi là ý định thực hiện (implementation intention). Độ lớn hiệu ứng d = 0,65, tính từ vừa tới lớn. Nó có tác dụng ở ba khâu: bạn bắt tay làm, bạn đứng vững lúc bị quấy rầy, và bạn rút ra khỏi những việc vốn không làm xong được.

Mức chứng cứ

A

Nguồn

Gollwitzer, P. M., & Sheeran, P. (2006). Implementation intentions and goal achievement: A meta-analysis of effects and processes. Advances in Experimental Social Psychology, 38, 69–119. https://doi.org/10.1016/S0065-2601(06)38002-1

Ghi chú

Chiêu này chỉ có tác dụng với việc bạn thật sự muốn làm. Mục tiêu mà bạn vốn không muốn thì bạn viết thêm bao nhiêu câu cũng vô ích. Ngoài ra, các nghiên cứu này tuyển đa số là sinh viên, và chủ yếu xem thói quen sức khỏe, nên đem sang chỗ làm chưa chắc còn tác dụng như vậy.

2 Trước khi bắt tay viết rõ điều kiện rút lui

Tiền: Không tốnThời gian: ÍtÝ chí: Chút ítLợi ích: LớnLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ B

Trước khi bắt tay, bạn viết sẵn một câu: tới ngày nọ tháng kia vẫn chưa đạt chỉ tiêu nào thì dừng. Khi gộp nhiều nghiên cứu lại tính, kiểu viết này thật sự giúp người rút khỏi việc vốn không làm xong được. Thời gian bạn tiết kiệm là toàn bộ phần bạn vốn còn tiếp tục đổ vào.

Xem chi tiết
Chi phí

Không tốn tiền. Lúc bắt tay, bạn mất 5 phút để viết rõ "tới ngày nọ tháng kia chưa đạt chỉ tiêu nào thì dừng". Phần khó là tới ngày đó bạn phải nhận, và dừng tay trước mặt người khác thì hơi mất mặt.

Lợi ích

Khi gộp nhiều nghiên cứu về ý định thực hiện lại tính, câu "nếu... thì..." định trước cũng giúp người rút khỏi việc vốn không làm xong được. Nguyên văn gọi là disengagement from failing courses of action. Thời gian tiết kiệm được chính là phần bạn vốn còn tiếp tục đầu tư vào.

Mức chứng cứ

B

Nguồn

Gollwitzer, P. M., & Sheeran, P. (2006). Implementation intentions and goal achievement: A meta-analysis of effects and processes. Advances in Experimental Social Psychology, 38, 69–119. https://doi.org/10.1016/S0065-2601(06)38002-1

Ghi chú

Bạn phải đặt điều kiện rút lui lúc mới bắt tay, khi cảm xúc còn bình tĩnh. Nếu bạn đặt sau, chi phí đã đổ vào sẽ kéo bạn lệch. Lúc phán đoán, bạn chỉ nhìn đầu tư tương lai và hồi báo tương lai, xem mục 3. Ngoài ra, "chịu rút lui" chỉ là một kết luận phụ trong phần tổng hợp nhiều nghiên cứu, chưa ai tính riêng nó tiết kiệm được bao nhiêu thời gian.

3 Quyết định có tiếp tục không thì chỉ nhìn đầu tư tương lai và hồi báo tương lai, đừng nhìn đã đổ vào bao nhiêu

Tiền: Không tốnThời gian: ÍtÝ chí: Chút ítLợi ích: VừaLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ B

Tiền và thời gian đã đổ vào khiến người càng muốn làm tiếp. Khi gộp 98 bộ dữ liệu lại tính, khuynh hướng này tồn tại ổn định. Bạn chỉ tính sau này còn phải đổ bao nhiêu và còn lấy lại bao nhiêu, phần đã tiêu rồi thì đừng tính.

Xem chi tiết
Chi phí

Không tốn tiền. Phần khó là bạn phải chấp nhận một việc: thời gian đã đổ vào trước đó đã mất, và bạn không lấy lại được.

Lợi ích

Tiền, sức lực và thời gian đã đầu tư vào khiến người muốn tiếp tục hơn. Trong tâm lý học, điều này gọi là hiệu ứng chi phí chìm (sunk cost). Gộp 98 bộ dữ liệu lại tính, phân tích xác nhận khuynh hướng này tồn tại ổn định. Bạn tránh được khuynh hướng này thì sẽ không vì "không muốn lãng phí" mà tiếp tục đổ thời gian vào.

Mức chứng cứ

B

Nguồn

Arkes, H. R., & Blumer, C. (1985). The psychology of sunk cost. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 35, 124–140. https://doi.org/10.1016/0749-5978(85)90049-4;Roth, S., Robbert, T., & Straus, L. (2015). On the sunk-cost effect in economic decision-making: A meta-analytic review. Business Research, 8(1), 99–138. https://doi.org/10.1007/s40685-014-0014-8

Ghi chú

Thí nghiệm rạp hát của Arkes và Blumer làm như sau. Rạp của Đại học Ohio bán vé trọn mùa, và chia ngẫu nhiên người mua vé thành ba giá: giá gốc 15 đô la, rẻ hơn 2 đô la, rẻ hơn 7 đô la. Nửa đầu mùa, nhóm giá gốc trung bình xem 4,11 suất, hai nhóm kia xem 3,32 và 3,29 suất. Nửa sau mùa, ba nhóm không còn khác nhau rõ. Roth và cộng sự thấy ảnh hưởng này nhạt dần theo thời gian, và người lớn tuổi chịu ảnh hưởng ít hơn.

4 Ước thời gian làm theo thời gian thực tế của việc cùng loại trước đây, đừng suy từ kế hoạch

Tiền: Không tốnThời gian: ÍtÝ chí: Không cầnLợi ích: LớnLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ B

Sinh viên ước mình 33,9 ngày viết xong luận văn, thực tế dùng 55,5 ngày, và chỉ 29,7% người xong đúng thời gian mình ước. Một nhóm khác được yêu cầu nhớ lại lần trước việc cùng loại mất bao lâu, rồi mới ước. Tỷ lệ xong đúng hạn từ 29,3% lên 60,0%.

Xem chi tiết
Chi phí

Không tốn tiền. Trước khi ước, bạn mất vài phút để lật lại xem lần trước việc cùng loại thực tế làm bao lâu.

Lợi ích

Sinh viên dự tính 33,9 ngày xong luận văn, nhưng thực tế dùng 55,5 ngày. Chỉ 29,7% người xong đúng theo ước tính của mình. Người nghiên cứu yêu cầu một nhóm khác trước hết gắn kinh nghiệm quá khứ với việc trước mắt, rồi mới ước. Tỷ lệ xong đúng hạn của nhóm này tăng từ 29,3% của nhóm đối chiếu lên 60,0%. Kiểu lạc quan ước thời gian ngắn đi không còn xuất hiện trên nhóm này.

Mức chứng cứ

B

Nguồn

Buehler, R., Griffin, D., & Ross, M. (1994). Exploring the "planning fallacy": Why people underestimate their task completion times. Journal of Personality and Social Psychology, 67(3), 366–381. https://doi.org/10.1037/0022-3514.67.3.366;Flyvbjerg, B. (2006). From Nobel Prize to project management: Getting risks right. Project Management Journal, 37(3), 5–15. https://doi.org/10.1177/875697280603700302;Halkjelsvik, T., & Jørgensen, M. (2012). From origami to software development: A review of studies on judgment-based predictions of performance time. Psychological Bulletin, 138(2), 238–271. https://doi.org/10.1037/a0025996

Ghi chú

Nghiên cứu của Buehler chỉ tuyển sinh viên đại học Canada. Đây là một nghiên cứu đơn lẻ, và người cũng ít, 37 người và khoảng 40 người mỗi nhóm. Ước theo số liệu lịch sử của dự án cùng loại thì gọi là dự đoán lớp tham chiếu (reference class forecasting). Trong xây dựng công trình, cách làm cụ thể xem Flyvbjerg. Halkjelsvik gộp nhiều nghiên cứu rồi chỉ ra rằng ước thiếu thường gặp hơn ước thừa, nhưng chênh bao nhiêu thì biến động rất lớn theo nhiệm vụ và cách làm nghiên cứu.

5 Trước họp gửi chương trình, họp không có chương trình thì không họp; họp đứng được thì họp đứng

Tiền: Không tốnThời gian: ÍtÝ chí: Không cầnLợi ích: VừaLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ B

Cuộc họp nào có gửi chương trình trước, người tham gia dễ thấy hơn rằng cuộc họp đó có ích. Trong thí nghiệm, họp ngồi dài hơn họp đứng 34%, mà quyết định hai kiểu họp làm ra thì tốt xấu không khác nhau.

Xem chi tiết
Chi phí

Không tốn tiền. Người tổ chức mất 5 đến 10 phút trước họp để viết một bản chương trình. Họp đứng thì cần người tham gia phối hợp.

Lợi ích

Hai cuộc khảo sát lần lượt có 958 người và 292 người. Kết quả là cuộc họp có gửi chương trình trước thì người tham gia dễ thấy hơn rằng cuộc họp đó có hiệu quả, và quan hệ này đứng vững về mặt thống kê. Một thí nghiệm khác có 55 nhóm họp ngồi và 56 nhóm họp đứng. Họp ngồi dài hơn 34%. Quyết định hai kiểu họp làm ra thì chất lượng không khác nhau.

Mức chứng cứ

B

Nguồn

Leach, D. J., Rogelberg, S. G., Warr, P. B., & Burnfield, J. L. (2009). Perceived meeting effectiveness: The role of design characteristics. Journal of Business and Psychology, 24(1), 65–76. https://doi.org/10.1007/s10869-009-9092-6;Bluedorn, A. C., Turban, D. B., & Love, M. S. (1999). The effects of stand-up and sit-down meeting formats on meeting outcomes. Journal of Applied Psychology, 84(2). https://doi.org/10.1037/0021-9010.84.2.277

Ghi chú

Thí nghiệm họp đứng đó làm trên nhóm 5 người, với nhiệm vụ trong phòng thí nghiệm. Họp dài và hội nghị lớn thì không nên áp nguyên kết luận này. Leach đo người tham gia tự thấy hiệu quả thế nào, không phải thực tế làm ra được bao nhiêu việc.

6 Cắt bớt số cuộc họp, việc giải quyết được bằng trao đổi văn bản không cần trả lời ngay thì không họp

Tiền: Không tốnThời gian: ÍtÝ chí: Chút ítLợi ích: LớnLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ B

Trong ngày họp càng nhiều, người càng mệt, và tự thấy việc trên tay cũng càng nhiều. Bạn cắt một cuộc họp thì thời gian tiết kiệm được đúng bằng độ dài cuộc họp đó, không mất phần nào.

Xem chi tiết
Chi phí

Không tốn tiền. Việc này cần đồng nghiệp và cấp trên phối hợp. Phần khó là viết rõ một đoạn văn tốn sức hơn là mở miệng nói một câu.

Lợi ích

Hai cuộc khảo sát trên nhân viên làm từ 35 giờ trở lên mỗi tuần, lần lượt 676 người và 304 người. Họp chiếm bao nhiêu thời gian thì ảnh hưởng tới thái độ làm việc và cảm giác hạnh phúc không cố định, mà còn tùy hai việc: họp có tốt không, và vị trí này phụ thuộc người khác nhiều cỡ nào. Một nghiên cứu khác cho người ghi nhật ký một tuần liền. Kết quả là trong ngày họp càng nhiều lần thì mệt mỏi và khối lượng việc tự cảm nhận càng cao. Thời gian bạn tiết kiệm được bằng chính độ dài cuộc họp bạn cắt.

Mức chứng cứ

B

Nguồn

Rogelberg, S. G., Leach, D. J., Warr, P. B., & Burnfield, J. L. (2006). "Not another meeting!" Are meeting time demands related to employee well-being? Journal of Applied Psychology, 91(1). https://doi.org/10.1037/0021-9010.91.1.83;Luong, A., & Rogelberg, S. G. (2005). Meetings and more meetings: The relationship between meeting load and the daily well-being of employees. Group Dynamics: Theory, Research, and Practice, 9(1). https://doi.org/10.1037/1089-2699.9.1.58

Ghi chú

Tranh cãi: Rogelberg 2006 thấy số lượng họp và cảm giác hạnh phúc không phải một chiều nghiêng hẳn. Vị trí làm việc phụ thuộc cao vào người khác thì họp nhiều ngược lại không tính là xấu. Ngoài ra, chưa có nghiên cứu nào so trực tiếp "đổi sang trao đổi văn bản không cần trả lời ngay" với họp, nên phần này là suy luận của chính tác giả.

7 Chia việc lớn thành việc con rồi mới ước thời gian, mới bắt tay

Tiền: Không tốnThời gian: ÍtÝ chí: Không cầnLợi ích: VừaLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ B

Lúc ước thời gian, người không tự động chia việc ra từng mảng để tính. Bạn liệt kê việc con ra trước rồi ước thì ước thiếu ít đi một khúc. Chia xong, mỗi bước nhỏ bạn đều bắt tay ngay được, nên cũng bớt dễ trì hoãn.

Xem chi tiết
Chi phí

Không tốn tiền. Việc chia mất 5 đến 15 phút.

Lợi ích

Lúc ước thời gian làm, người không tự chia một việc gồm nhiều phần thành nhiều mảng. Ví dụ viết tổng quan tài liệu, viết phần thảo luận, sắp xếp tài liệu tham khảo, đó vốn là mấy việc. Bạn liệt kê việc con ra trước rồi ước thì bớt phạm được tật ước thời gian ngắn đi. Tật đó gọi là sai lầm lập kế hoạch (planning fallacy). Chia xong, mỗi bước nhỏ trở thành một động tác bạn có thể bắt đầu ngay, nên trì hoãn cũng ít đi. Trong nghiên cứu, yếu tố báo trước trì hoãn rõ nhất gồm cảm giác chán ghét việc này, và nhiệm vụ bị đẩy về sau.

Mức chứng cứ

B

Nguồn

Kruger, J., & Evans, M. (2004). If you don't want to be late, enumerate: Unpacking reduces the planning fallacy. Journal of Experimental Social Psychology, 40(5), 586–598. https://doi.org/10.1016/j.jesp.2003.11.001;Steel, P. (2007). The nature of procrastination: A meta-analytic and theoretical review of quintessential self-regulatory failure. Psychological Bulletin, 133(1). https://doi.org/10.1037/0033-2909.133.1.65

Ghi chú

Chia tới mức nào là vừa, bạn lấy "mỗi việc con xong được trong một lần ngồi xuống" làm chuẩn. Chia quá mịn thì chính việc chia cũng tốn thời gian. Ngoài ra, nghiên cứu của Kruger và Evans chỉ kiểm được hướng từ phần tóm tắt, còn con số phần trăm cụ thể thì chưa đối được bản gốc.

8 Việc không có hạn chót bên ngoài thì tự đặt cho nó một ngày

Tiền: Không tốnThời gian: ÍtÝ chí: Chút ítLợi ích: LớnLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ B

Khi người khác đặt hạn chót, 80,6% sinh viên làm xong được trước hạn đó. Chỉ 38,7% người xong đúng theo thời gian mình dự tính. Khi nào bạn xong gần như theo hạn chót, liên quan tới tự mình ước không lớn. Việc không có hạn chót thì bạn tự đặt một ngày, và nhận.

Xem chi tiết
Chi phí

Không tốn tiền. Phần khó là đã đặt thì bạn phải nhận. Tới ngày đó bạn coi như không có chuyện gì thì bằng chưa đặt.

Lợi ích

Sinh viên có hạn chót bên ngoài thì 80,6% xong trước hạn. Chỉ 38,7% người xong trong thời gian mình dự tính. Khi nào xong gần như chạy theo hạn chót, hệ số tương quan r = 0,82. Số này càng gần 1 thì bám càng sát. Với dự tính của bản thân chỉ liên hệ rất yếu.

Mức chứng cứ

B

Nguồn

Buehler, R., Griffin, D., & Ross, M. (1994). Exploring the "planning fallacy": Why people underestimate their task completion times. Journal of Personality and Social Psychology, 67(3), 366–381. https://doi.org/10.1037/0022-3514.67.3.366

Ghi chú

Bạn đem ngày mình đặt nói cho người khác thì nó sẽ gần với kiểu người khác đặt hơn. Nghiên cứu kiểm chứng hạn chót do người khác đặt có tác dụng. Kiểu bạn tự đặt cho mình, ví dụ hộp thời gian (timebox) hay đồng hồ cà chua (Pomodoro), thì chưa ai đo trực tiếp, và ở đây chỉ là suy ra.

9 Coi trì hoãn là đang tránh cảm giác khó chịu, đừng coi là chưa đủ cố gắng

Tiền: Không tốnThời gian: ÍtÝ chí: Chút ítLợi ích: VừaLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ A

Việc làm bạn khó chịu cỡ nào, bạn có thấy mình làm được không, bạn dễ bị thứ trước mắt cuốn đi cỡ nào, và tự kiểm soát mạnh hay yếu, là những thứ liên quan nhất tới trì hoãn. Tính cách như hay lo âu hoặc thích tìm kích thích chỉ liên quan rất ít tới trì hoãn. Vì vậy bạn có thể trước hết làm việc bớt khó chịu, thu nhỏ bước đầu, đừng chỉ mắng mình rồi gượng làm.

Xem chi tiết
Chi phí

Không tốn tiền. Bạn chỉ đổi hướng phán đoán: trước hỏi việc này chỗ nào khiến bạn khó chịu, rồi mới nghĩ cách.

Lợi ích

Một phân tích gộp 691 hệ số tương quan cho thấy mấy thứ liên hệ mạnh và ổn định với trì hoãn. Đó là mức việc khiến người ta chán ghét, khoảng cách tới hạn chót, cảm giác tự hiệu lực (thấy mình làm được), tính bốc đồng, và tính tận tâm. Dưới tính tận tâm còn có tự kiểm soát, dễ phân tâm, tính ngăn nắp và động cơ thành tựu. Còn tính dễ xúc động tiêu cực, tính nổi loạn và tìm cảm giác mạnh chỉ liên hệ rất yếu với trì hoãn. Tác giả dùng lý thuyết động cơ thời gian để giải thích nhóm kết quả này. Sức hút hiện tại của một việc nhanh chóng nhỏ lại khi hồi báo xa dần.

Mức chứng cứ

A

Nguồn

Steel P (2007). The nature of procrastination: a meta-analytic and theoretical review of quintessential self-regulatory failure. Psychological Bulletin, 133(1), 65–94. https://doi.org/10.1037/0033-2909.133.1.65

Ghi chú

Mức lợi ích ghi "vừa", vì các nghiên cứu này chỉ cho thấy hướng, chưa đo được tiết kiệm bao nhiêu giờ. Động tác cụ thể xem mục 1 của phần này (viết thành "mấy giờ, ở đâu, gặp gì thì làm gì"), mục 7 (chia việc lớn thành việc con) và mục 8 (đặt một ngày cho việc không có hạn chót bên ngoài). Đây là phần tổng hợp nghiên cứu tương quan, không nhìn ra cái nào gây cái nào.

10 Để đồ cần dùng tới tay, xo đồ không muốn đụng ra xa, đừng trông vào nhịn ngay lúc đó

Tiền: Không tốnThời gian: ÍtÝ chí: Không cầnLợi ích: VừaLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ B

Đồ để xa một chút thì người cầm ít hơn một chút. Để cùng một thức ăn vặt xa hơn, lượng ăn vào giảm rõ rệt, hiệu ứng mức vừa. Bày bớt vài lựa chọn thì người lấy cũng ít đi rõ rệt. Cách này không cần bạn nhịn ngay lúc đó, vài phút là bạn bày xong.

Xem chi tiết
Chi phí

Không tốn tiền, một lần vài phút. Bạn để điện thoại sang phòng khác, và mở sách cùng máy tính ra trên bàn.

Lợi ích

Một tổng quan Cochrane đưa vào 24 thử nghiệm ngẫu nhiên. Để thức ăn xa hơn thì lượng ăn vào giảm, chênh lệch trung bình chuẩn hóa -0,60 (95% CI -0,84 đến -0,36, đây là khoảng tin cậy; 12 nghiên cứu, 1.098 người, chứng cứ độ chắc thấp), thuộc hiệu ứng vừa. Giảm số lựa chọn thì tỷ lệ chọn thức ăn đó giảm rõ hơn, chênh lệch trung bình chuẩn hóa -1,13 (95% CI -1,90 đến -0,37, 3 nghiên cứu, 154 người, chứng cứ độ chắc thấp). Phân tích hồi quy cho thấy để càng xa và lựa chọn càng đơn nhất thì hiệu quả càng mạnh.

Mức chứng cứ

B

Nguồn

Hollands GJ, Carter P, Anwer S, et al. (2019). Altering the availability or proximity of food, alcohol, and tobacco products to change their selection and consumption. Cochrane Database of Systematic Reviews, 9, CD012573. https://doi.org/10.1002/14651858.CD012573.pub3

Ghi chú

Lý do định mức B: 24 nghiên cứu mà tổng quan này thu vào toàn nói về thức ăn, còn rượu và thuốc thì một nghiên cứu cũng không có. 14 nghiên cứu làm trong phòng thí nghiệm, và toàn bộ đến từ nước thu nhập cao. Vì vậy, đem ý "dời ra xa thì ít đụng" sang điện thoại và game chỉ là suy rộng ra, chưa có thử nghiệm trực tiếp. Riêng việc để điện thoại ngoài tầm nhìn thì đã có người đo trực tiếp, xem phần 3, mục 1 (tắt thông báo không cần thiết, lúc làm việc để điện thoại ngoài tầm nhìn).

11 Muốn bản thân làm được thì đặt tiền cược, nhưng trước tự hỏi mình có chịu đặt không

Tiền: ÍtThời gian: ÍtÝ chí: Chút ítLợi ích: VừaLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ A

Muốn ép mình, bạn có thể lĩnh thưởng khi làm được, hoặc nộp cọc trước rồi làm được mới lấy lại cọc cộng thưởng. Người chịu cả hai kiểu, bên nộp cọc làm được nhiều hơn 13 điểm phần trăm. Nhưng chỉ 13,7% người chịu nộp cọc, 90% chịu lĩnh thưởng, nên cọc chỉ có ích với người chịu đặt.

Xem chi tiết
Chi phí

Với kiểu đặt cọc, bạn phải lấy ra trước một khoản tiền của mình. Bạn làm không được thì khoản đó mất. Trong thử nghiệm, số đặt là 150 đô la.

Lợi ích

Một thử nghiệm ngẫu nhiên trên 2.538 người của Mỹ chia ngẫu nhiên nhân viên cùng người thân và bạn bè của họ vào bốn phương án khuyến khích hoặc chăm sóc thường quy. Kiểu thưởng (làm được thì cho khoảng 800 đô la) có tỷ lệ tiếp nhận 90,0%. Kiểu đặt cọc (nộp trước 150 đô la, cộng thêm 650 đô la thưởng) có tỷ lệ tiếp nhận 13,7%. Tỷ lệ cai thuốc duy trì sáu tháng của bốn phương án khuyến khích từ 9,4% đến 16,0%, còn chăm sóc thường quy là 6,0%. Kiểu thưởng là 15,7%, kiểu cọc là 10,2%. Nhưng trong 13,7% người "hai kiểu đều chịu tham gia", kiểu cọc có tỷ lệ cai thuốc sáu tháng cao hơn kiểu thưởng 13,2 điểm phần trăm (95% CI 3,1 đến 22,8, đây là khoảng tin cậy).

Mức chứng cứ

A

Nguồn

Halpern SD, French B, Small DS, et al. (2015). Randomized trial of four financial-incentive programs for smoking cessation. New England Journal of Medicine, 372(22), 2108–2117. https://doi.org/10.1056/NEJMoa1414293

Ghi chú

Thử nghiệm này đo việc cai thuốc. Đem sang viết luận văn hay tập thể dục, đây là suy rộng ra, nên mức lợi ích ghi "vừa". Khi chọn phương án, trước hết xem mình có thật sự dùng nó không, chứ đừng chỉ xem nó hiệu quả cỡ nào. Cách mà đa số người không chịu tiếp nhận thì hiệu quả mạnh cỡ nào cũng vô dụng với những người đó. Vì thế bạn nên chọn trước kiểu mình chịu tiếp nhận, đặt nhỏ một chút cũng hơn không đặt. Riêng việc cai thuốc thì cai thế nào, bạn xem phần 2, mục 3 (thuốc cai thuốc).

12 Thói quen mới tính theo tháng, đừng tính "21 ngày"

Tiền: Không tốnThời gian: ÍtÝ chí: NhiềuLợi ích: VừaLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ B

"21 ngày tạo một thói quen" không có căn cứ. Một nghiên cứu theo dõi 12 tuần tính ra, một động tác trở nên không cần nghĩ cũng làm: nhanh 18 ngày, chậm phải 254 ngày. Hai ba tuần vẫn chưa thấy nhẹ là bình thường. Giữa chừng bạn lỡ một ngày cũng không xóa trắng tiến độ.

Xem chi tiết
Chi phí

Không tốn tiền. Bạn cần mỗi ngày lặp lại cùng một động tác trong cùng một bối cảnh, và kéo dài vài tháng.

Lợi ích

96 tình nguyện viên, mỗi người chọn một động tác về ăn, uống hoặc vận động. Họ làm mỗi ngày trong bối cảnh cố định (ví dụ "sau bữa sáng"), kéo dài 12 tuần, và mỗi ngày tự chấm mức tự động hóa. Dữ liệu của 82 người đủ để phân tích, và mô hình khớp được trên 62 người. Số ngày cần để đạt 95% trần tự động hóa của từng người trong khoảng 18 ngày đến 254 ngày. Nghiên cứu còn thấy bỏ lỡ một lượt thực hiện không ảnh hưởng thực chất tới quá trình tạo thói quen.

Mức chứng cứ

B

Nguồn

Lally P, van Jaarsveld CHM, Potts HWW, Wardle J (2010). How are habits formed: Modelling habit formation in the real world. European Journal of Social Psychology, 40(6), 998–1009. https://doi.org/10.1002/ejsp.674

Ghi chú

Chỉ có một nghiên cứu này, 96 người, và việc họ làm đều là động tác đơn giản (ví dụ sau bữa ăn ăn một phần trái cây). Việc phức tạp cần bao lâu, ví dụ mỗi tuần chạy ba lần hay mỗi ngày viết, thì chưa ai đo. Vì vậy, nếu hai tuần sau bạn vẫn thấy rất tốn sức, đó chưa phải bằng chứng thất bại. Muốn việc lặp lại thật sự xảy ra, bạn buộc động tác vào một bối cảnh cố định, xem mục 1 của phần này (viết thành "mấy giờ, ở đâu, gặp gì thì làm gì").

13 Trì hoãn đã ảnh hưởng cuộc sống thì dùng tài liệu tự giúp có thử nghiệm ngẫu nhiên chống đỡ, không nhất thiết tìm nhà trị liệu

Tiền: Không tốnThời gian: VừaÝ chí: Chút ítLợi ích: VừaLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ A

Trì hoãn nặng tới mức khiến người đau khổ là có thể cải thiện. Luyện theo tài liệu tự giúp nhận thức hành vi mười tuần, dù có người dẫn hay tự làm, đều tốt hơn rõ rệt so với không làm gì. Có người dẫn hay không thì không thấy khác nhau, nên bạn tự theo làm cũng có hiệu quả.

Xem chi tiết
Chi phí

Một quyển sách tự giúp vài chục nhân dân tệ, có loại miễn phí. Bạn phải bỏ khoảng mười tuần, mỗi tuần đọc một phần và làm một lần bài tập.

Lợi ích

150 người được chia ngẫu nhiên thành ba nhóm: tự giúp có nhà trị liệu hướng dẫn, tự giúp không hướng dẫn, và đối chiếu danh sách chờ. Mười tuần sau, độ lớn hiệu ứng giữa các nhóm trên thang trì hoãn thuần là nhóm có hướng dẫn d = 0,70 (95% CI 0,29–1,10, đây là khoảng tin cậy), nhóm không hướng dẫn d = 0,50 (0,10–0,90). Trên thang trì hoãn phi lý thì lần lượt 0,81 (0,40–1,22) và 0,69 (0,29–1,09). Tỷ lệ đạt cải thiện có ý nghĩa lâm sàng: nhóm có hướng dẫn 31,3% đến 40,0%, nhóm không hướng dẫn 24,0% đến 36,0%. Nhóm có hướng dẫn và nhóm không hướng dẫn không khác nhau có ý nghĩa ở bất kỳ kết quả nào.

Mức chứng cứ

A

Nguồn

Rozental A, Forsell E, Svensson A, Andersson G, Carlbring P (2015). Internet-based cognitive-behavior therapy for procrastination: A randomized controlled trial. Journal of Consulting and Clinical Psychology, 83(4), 808–824. https://doi.org/10.1037/ccp0000023

Ghi chú

Người tham gia là người lớn Thụy Điển, dùng tài liệu tiếng Thụy Điển. Tiếng Trung cũng chưa có sẵn cùng một bộ, nên mức lợi ích ghi "vừa". Thành phần trong tài liệu chính là mấy thứ quen thuộc: kích hoạt hành vi, thí nghiệm hành vi, kiểm soát kích thích, và phần giảng về động cơ cùng cách làm việc. Phần kiểm soát kích thích nằm ở mục 10 của phần này (xo đồ không muốn đụng ra xa). Trì hoãn mà kèm tâm trạng sa sút hoặc lo âu rõ thì bạn làm trước theo phần 3, mục 18 (vận động, phơi nắng, ngủ đúng giờ, tìm người nói chuyện, gọi 12356).

14 Dùng tiền giờ của mình quyết định việc nhà nào thuê ngoài

Tiền: NhiềuThời gian: ÍtÝ chí: Không cầnLợi ích: LớnLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ B

Người Trung Quốc trung bình mỗi ngày dành 1 giờ 17 phút làm việc nhà. Riêng người thật sự làm việc nhà trong ngày thì mất 1 giờ 59 phút. Người tiêu tiền mua thời gian có mức hài lòng cuộc sống cao hơn. Cùng một khoản tiền, mua thời gian lúc đó vui hơn mua đồ.

Xem chi tiết
Chi phí

Bạn phải trả một khoản tiền thuê ngoài, bao nhiêu thì xem bạn mua dịch vụ gì. Ngoài ra, bạn phải mất một lần thời gian để tính rõ tiền giờ của mình.

Lợi ích

Cư dân Trung Quốc làm việc nhà mỗi ngày trung bình 1 giờ 17 phút. Chỉ tính người có làm việc nhà thì trung bình 1 giờ 59 phút. Đây là điều tra năm 2024, bao phủ 38.500 hộ và 107.000 người. Một nghiên cứu khác lấy mẫu 6.271 người ở bốn nước. Người tiêu tiền mua thời gian có mức hài lòng cuộc sống cao hơn. Người nghiên cứu còn làm thí nghiệm trong đời thực: cùng một khoản tiền, tiêu vào mua thời gian thì cảm giác hạnh phúc lúc đó cao hơn so với mua đồ vật.

Mức chứng cứ

B

Nguồn

Whillans, A. V., Dunn, E. W., Smeets, P., Bekkers, R., & Norton, M. I. (2017). Buying time promotes happiness. Proceedings of the National Academy of Sciences. https://doi.org/10.1073/pnas.1706541114;国家统计局 (2024). 第三次全国时间利用调查公报(第二号). https://www.stats.gov.cn/sj/zxfb/202410/t20241031_1957216.html

Ghi chú

Bạn tính tiền giờ trước. Cách tính là thu nhập sau thuế một tháng ÷ số giờ làm việc thực tế một tháng. Rồi bạn xem thuê ngoài việc nhà này mất bao nhiêu tiền. Nếu đơn giá thuê ngoài thấp hơn tiền giờ của bạn, và thời gian tiết kiệm được bạn thật sự dùng vào kiếm tiền hoặc nghỉ ngơi, thì bạn thuê ngoài. Tiền giờ và giá thuê ngoài mỗi người một khác, nên kết luận bạn phải tự tính. Ngoài ra, Whillans đo là sau khi tiêu tiền mua thời gian thì người có vui không, không phải tiết kiệm được bao nhiêu giờ.

15 Đặt giới hạn cứng cho video ngắn và lướt màn hình không mục đích

Tiền: Không tốnThời gian: ÍtÝ chí: NhiềuLợi ích: LớnLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ CChỉ áp dụng ở Trung Quốc

Năm 2024, người Trung Quốc trung bình mỗi ngày lên mạng 5 giờ 37 phút. Riêng người có lên mạng trong ngày thì là 6 giờ 3 phút. Năm 2018 cùng cách tính vẫn chỉ 2 giờ 42 phút. Đây là mục có số lớn nhất của phần này, mỗi ngày bạn cắt một giờ thì một năm nhiều ra 365 giờ.

Xem chi tiết
Chi phí

Không tốn tiền. Động tác chỉ vài phút: bạn tắt đẩy thông báo, xóa app, hoặc đặt cho app một giới hạn thời gian mỗi ngày. Phần khó là bạn quản được tay và nhịn không bấm mở.

Lợi ích

Cư dân Trung Quốc lên mạng mỗi ngày trung bình 5 giờ 37 phút. Chỉ tính người trong ngày đó thật sự lên mạng thì trung bình 6 giờ 3 phút. Người trong ngày đó có dùng mạng chiếm 92,9%. Đây đều là số liệu năm 2024. Năm 2018, cùng cách tính chỉ 2 giờ 42 phút. Đây là mục có con số lớn nhất của phần này. Mỗi ngày cắt đi một giờ trong đó thì bằng mỗi năm nhiều ra 365 giờ. Ngoài ra, theo Trung tâm thông tin mạng Internet Trung Quốc, tới tháng 6 năm 2025, dân mạng trung bình mỗi tuần lên mạng 30,6 giờ, nhiều hơn nửa năm trước 1,9 giờ. Người dùng video ngắn có 1,068 tỷ người, chiếm 95,1% dân mạng.

Mức chứng cứ

C

Nguồn

国家统计局 (2024). 第三次全国时间利用调查公报(第二号). https://www.stats.gov.cn/sj/zxfb/202410/t20241031_1957216.html;国家统计局 (2019). 2018年全国时间利用调查公报. https://www.stats.gov.cn/sj/zxfb/202302/t20230203_1900224.html;中国互联网络信息中心 (2025). 第 56 次《中国互联网络发展状况统计报告》. https://www.cnnic.net.cn/NMediaFile/2025/0730/MAIN1753846666507QEK67ZS9DH.pdf

Ghi chú

Chỉ tham khảo TQ: thời gian lên mạng và số dân mạng ở đây đều là thống kê của Trung Quốc. Thời gian lên mạng gồm cả công việc, học tập và giao tiếp, không phải toàn lãng phí. Định mức C là vì chưa có nghiên cứu nào tính "sau khi giới hạn thì tiết kiệm lại bao nhiêu, và thời gian đó dùng vào đâu", trong tay chỉ có thống kê tổng lượng. Trong đó, kiểu "lướt xem người khác sống thế nào" đã có thử nghiệm ngẫu nhiên đo được tiết kiệm lại bao nhiêu và tâm trạng đổi bao nhiêu, xem phần 3, mục 20 (đừng coi "người khác sống thế nào" là bài buộc đọc mỗi ngày).

16 Không xem TV và tin cuộn, thông tin cần thiết xem tập trung theo giờ cố định

Tiền: Không tốnThời gian: ÍtÝ chí: Chút ítLợi ích: LớnLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ C

Người Mỹ từ 15 tuổi trở lên mỗi ngày xem 2,6 giờ TV, chiếm một nửa toàn bộ thời gian rảnh. Năm 2018, người Trung Quốc trung bình mỗi ngày xem 1 giờ 40 phút, người già 75 đến 84 tuổi xem 3 giờ 16 phút. Bạn đổi thông tin sang xem tập trung theo giờ thì phần tiết kiệm được nằm trong khối thời gian này.

Xem chi tiết
Chi phí

Không tốn tiền. Phần khó là bạn bỏ thói quen thuận tay mở ra, và còn có thể lỡ một số tin tức thời.

Lợi ích

Người Mỹ từ 15 tuổi trở lên mỗi ngày xem TV 2,6 giờ. Toàn bộ thời gian giải trí của họ là 5,2 giờ, và xem TV chiếm một nửa. Đây là số của năm 2025. Cư dân Trung Quốc xem TV mỗi ngày trung bình 1 giờ 40 phút, người 75 đến 84 tuổi xem 3 giờ 16 phút. Đây là số của năm 2018.

Mức chứng cứ

C

Nguồn

U.S. Bureau of Labor Statistics (2026). American Time Use Survey — 2025 Results. https://www.bls.gov/news.release/atus.nr0.htm;国家统计局 (2019). 2018年全国时间利用调查公报. https://www.stats.gov.cn/sj/zxfb/202302/t20230203_1900224.html

Ghi chú

Trong tay chỉ có thống kê tổng lượng. Chưa có nghiên cứu nào tính xem sau khi ít xem TV và tin tức thì thời gian tiết kiệm được dùng vào đâu. Cách "xem tập trung" là kinh nghiệm của tác giả.

17 Dành một lần thời gian học phím tắt và tự động hóa của phần mềm hay dùng

Tiền: Không tốnThời gian: VừaÝ chí: Chút ítLợi ích: VừaLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ B

Đa số người quen dùng Word vẫn bấm biểu tượng thanh công cụ. Trong thí nghiệm so theo nhóm, phím tắt nhanh hơn cả menu lẫn biểu tượng. Học một lần là chi phí một lần, sau đó mỗi ngày mỗi thao tác đều đang hoàn vốn. Việc cùng loại làm càng lâu thì bạn thu về càng nhiều.

Xem chi tiết
Chi phí

Không tốn tiền. Bạn phải bỏ một lần, từ vài giờ tới vài chục giờ, để học. Phần khó là lúc mới lên tay bạn còn chậm hơn dùng chuột.

Lợi ích

Nghiên cứu khảo sát 251 người dùng Word có kinh nghiệm. Đa số ít dùng phím tắt dù nó nhanh hơn, và vẫn chủ yếu bấm biểu tượng thanh công cụ. Thí nghiệm so theo nhóm xác nhận rằng trong ba cách menu, biểu tượng và phím tắt thì phím tắt nhanh nhất. Thời gian tiết kiệm được tích lũy từng chút theo số lần thao tác mỗi ngày. Người làm cùng một loại việc lâu dài thì lợi nhiều nhất.

Mức chứng cứ

B

Nguồn

Lane, D. M., Napier, H. A., Peres, S. C., & Sándor, A. (2005). Hidden costs of graphical user interfaces: Failure to make the transition from menus and icon toolbars to keyboard shortcuts. International Journal of Human-Computer Interaction. https://doi.org/10.1207/s15327590ijhc1802_1

Ghi chú

Bạn chỉ học thao tác mỗi ngày dùng từ mười lần trở lên. Học quá đầy đủ là một kiểu lãng phí khác. Ngoài ra, thí nghiệm đó chỉ có 6 người tham gia, và phần tóm tắt cũng không cho số giây tiết kiệm mỗi lần thao tác.

18 Chọn chỗ ở thì đặt thời gian đi làm lên trước, rút ngắn đường đi làm một chiều

Tiền: NhiềuThời gian: VừaÝ chí: Không cầnLợi ích: LớnLoại lợi ích: Thời gianChứng cứ B

Trong dữ liệu theo dõi ở Đức, người đi làm đường càng xa thì tự thấy sống càng không tốt. Khoản thiệt này không được bù lại trên lương hay nhà ở. Một chiều ít đi 30 phút thì một tuần bạn tiết kiệm ra 5 giờ.

Xem chi tiết
Chi phí

Chi phí cao. Bạn có thể phải trả tiền thuê cao hơn, hoặc đổi sang căn nhỏ hơn. Chuyển nhà cũng mất thời gian.

Lợi ích

Cư dân Trung Quốc mỗi ngày tiêu vào giao thông trung bình 50 phút. Chỉ tính người trong ngày đó có ra ngoài thì là 1 giờ 2 phút. Đây là số của năm 2024. Số liệu Đức theo dõi dài hạn cùng một nhóm người cho thấy người có đường đi làm càng xa thì cảm giác hạnh phúc chủ quan (tự thấy sống tốt hay không) ổn định thấp hơn. Khoản thiệt này không được bù trên thu nhập hay nhà ở. Tổng quan gom nhiều nghiên cứu lại cũng xác nhận rằng thời gian đi làm càng dài thì người càng không hài lòng với đường đi làm, bất kể đi bằng phương tiện nào. Một chiều ít đi 30 phút thì mỗi tuần tiết kiệm khoảng 5 giờ.

Mức chứng cứ

B

Nguồn

Stutzer, A., & Frey, B. S. (2008). Stress that doesn't pay: The commuting paradox. Scandinavian Journal of Economics, 110(2), 339–366. https://doi.org/10.1111/j.1467-9442.2008.00542.x;Chatterjee, K., et al. (2020). Commuting and wellbeing: A critical overview of the literature with implications for policy and future research. Transport Reviews, 40(1), 5–34. https://doi.org/10.1080/01441647.2019.1649317;国家统计局 (2024). 第三次全国时间利用调查公报(第二号). https://www.stats.gov.cn/sj/zxfb/202410/t20241031_1957216.html

Ghi chú

Tranh cãi: Chatterjee và cộng sự gộp nhiều nghiên cứu rồi chỉ ra rằng giữa đường đi làm xa gần và mức hài lòng cuộc sống tổng thể vẫn chưa nhìn ra quan hệ ổn định. Họ cho rằng nhìn chung người ta dùng được công việc hoặc nhà ở tốt hơn để đổi lại khoản thiệt của đường xa. Cũng cần chú ý, thống kê hoạt động giao thông tính mọi lượt ra ngoài, không chỉ đi làm. Ngoài ra, nếu bạn đi làm lệch giờ cao điểm được thì cùng một đoạn đường cũng mất ít thời gian hơn.